Christian Dior

nhà thiết kế thời trang (1905-1957) sinh tại Granville, Pháp. Là hậu duệ của một gia đình sản xuất, giai cấp tư sản Norman, Dior đã có thời thơ ấu khá đầy đủ tại biệt thự của gia đình, Les Rhumbs, nằm trên bờ biển Channel tại Granville. Hiện nay, bên trong căn biệt thự này là một bảo tàng viện dành để tưởng nhớ đến ông. Vào thời điểm đó bến cảng nhỏ thường được xem là khu nghỉ mát bên bờ biển mang tính cách tân thời, và trong mùa hè nơi đây lại được biến thành “một khu phố thanh lịch của Paris”.
Gia đình ông chuyển đến Paris vào năm 1911, trong khu phố cho tầng lớp trung lưu thuộc Passy, gần bois de Boulogne.
Theo ý muốn của cha ông, Dior theo học trường École de Sciences Politiques tại Paris sau khi đi thi đậu tú tài. Ông đã rất hứng thú trong việc theo dõi sự phát triển nghệ thuật Paris, gặp gỡ nhiều tác giả, họa sĩ, nhạc sĩ, và kết bạn với Pierre Gaxotte, Maurice Sachs, Jean Ozenne và cả những người anh em họ của ông là Christian Berard, Max Jacob, Henri Sauguet cũng như các nhân vật khác.
Năm 1927, sau khi hoàn tất nghĩa vụ quân sự và với sự hỗ trợ của người cha, ông đã mở một phòng trưng bày nghệ thuật tại 34, rue de la Boétie. Do cha mẹ ông từ chối không muốn gắn tên lên trên bảng hiệu thương mại, nên cơ sơ đã được đặt theo tên của một đối tác là Jacques Bonjean. Phòng trưng bày bao gồm các tác phẩm của các nghệ sĩ đương đại như Giorgio de Chirico, Maurice Utrillo, Salvador Dalí ‘, Raoul Dufy, Marie Laurencin, Fernand Léger, Jean Lurçat, Pablo Picasso, Ossip Zadkine, Georges Braque, và Aristide Maillol.
Thời thanh thiếu niên vô tư của Christian Dior cũng đã sớm kết thúc: năm 1931 anh trai của ông bị đưa vào viện tâm thần, mẹ ông qua đời và cha của ông đã hoàn toàn bị phá sản. Đối mặt với những thảm kịch chồng chất này, Dior đã phản ứng bằng một cuộc trốn chạy về phương Đông. Rất ngây thơ, ông đã bị thúc đẩy bởi việc chạy tìm kiếm một cách vô vọng giải pháp cho những vấn đề được cho là do chủ nghĩa tư bản cấp thời gây ra, và đã tham gia vào một chuyến nghiên cứu sang Liên Xô cùng với các kiến trức sư, rồi cuối cùng khi trở về chỉ thấy đối tác của ông cũng đã bị phá sản.
Gia đình đang gặp khó khăn của ông đã rời Paris để đến Normandy và sau đó nương tựa tại làng Callian, gần Cannes. Dior ở lại Paris, đóng cửa phòng trưng bày đầu tiên của ông và tham gia với phòng trưng bày của Pierre Colle trên đường Cambacérès rue. Bằng cách này ông đã tránh được việc phải hóa giá lỗ vốn và tiếp tục tổ chức các cuộc triển lãm siêu thực và trừu tượng, việc này cũng đã xua đuổi luôn những khách hàng yêu nghệ thuật cuối cùng của ông.
Năm 1934 ông bị nhiễm bệnh lao và bạn bè của ông đã chấp nhận mua một bộ sưu tập để ông có tiền đi điều trị. Năm sau đó, ông hoàn toàn không có thu nhập và không có cả nhà cửa tại Paris. Ông đã cố gắng sống sót bằng cách bán một trong những bức tranh cuối cùng của ông, le plan de Paris of Raoul Dufy, bức tranh mà tác giả Paul Poiret đã bán cho Dior khi chính ông ta cũng ở trong hoàn cảnh cơ cực tương tự như Dior hiện nay.
Thời trang và trang phục
Jean Ozenne, người đang thiết kế cho một công ty thời trang, đã giới thiệu Dior với thế giới thời trang và các khách hàng của ông. Ở tuổi ba mươi, Dior đã dốc toàn lực để học vẽ thời trang, hoàn toàn dựa trên những gì ông biết và đánh giá cao nơi Edward Molyneux, Coco Chanel, Elsa Schiaparelli, và Jeanne Lanvin. Ông đã thành công với việc bán các bản phác thảo cho mũ và trang phục đầu tiên. Khách hàng của ông là các nhà sản xuất mũ thời trang và các công ty thời trang cao cấp nhưng ông cũng bán cả ý tưởng cho các khách hàng nước ngoài. Việc bản vẽ của ông được công bố trên tờ Le Figaro đã đem lại tiếng tăm lần đầu tiên cho ông. Năm 1937, nhà thiết kế thời trang, Robert Piguet, đã chọn bốn mẫu thiết kế của Dior và nhờ Dior sản xuất chúng cho bộ sưu tập giữa mùa của ông. Christian Dior nói, lúc đó mới chỉ 32 tuổi, “đây là bộ trang phục đầu tiên mà tôi thực sự đã tạo ra.”
Vào tháng sáu năm 1938 Robert Piguet đề nghị với Dior một vị trí thiết kế trong Studio thời trang của ông tại Rond Point, Élysées Champs. Tại đây, Dior đã thiết kế một loạt ba bộ sưu tập. Bộ thứ hai bao gồm những chiếc áo đầm rộng đầu tiên, lấy cảm hứng từ những chiếc áo đầm của các nữ anh hùng trẻ tuổi trong văn học dành cho trẻ em “les filles Petites modèles” của Đệ Nhị Đế chế Pháp. Trang phục đặc trưng với ngực nâng cao vòng tròn rộng bắt đầu từ thắt lưng, váy lót thêu kiểu Anh.
Là người tạo mẫu thiết kế thành công có tên là “English coffee,” ông đã được giới thiệu đến Carmel Snow, biên tập viên của Bazaar Harper. Năm 1939, bộ sưu tập cuối cùng trước chiến tranh của ông dành cho Piguet giới thiệu một dòng được gọi là “trang phục amphora” đánh dấu sự khởi đầu của vòng hông tròn.
Song song với công việc thiết kế, Dior còn thiết kế trang phục cho sân khấu và cho cả các khách hàng cá nhân. Ông tạo ra trang phục cho nữ diễn viên Odette Joyeux trong “Captain Smith” của Jean Blanchon (tại nhà hát Théâtre des Mathurins, tháng 12 năm 1939) và trong “The School for Scandal” của Richard Sheridan (cũng tại cùng nhà hát, tháng 2 năm 1940).
Dior bị động viên khi chiến tranh bùng nổ vào năm 1939. Khi đình chiến vào năm 1940, ông đã lưu lại trong vùng không bị chiếm đóng của Pháp. Piguet, vẫn ở Paris, đã yêu cầu ông tiếo tục với công việc vào trước chiến tranh, nhưng do trả lời trễ vị trí đã được giao cho Antonio del Castillo vào mùa thu năm 1941. Dior sau đó đã làm cho Lucien Lelong, cùng với một nhà thiết kế trẻ là Pierre Balmain. Cả hai cùng chia sẻ nhiệm vụ thiết kế trong suốt cuộc chiến: “Balmain và tôi không bao giờ quên Lelong đã dạy chúng tôi nghiệp vụ trong hoàn cảnh tồi tệ nhất”, Dior nói. Nhân phẩm của Lucien Lelong, người chủ tịch thông minh của Chambre de la couture Parisienne (hiệp hội thời trang cao cấp) trong suốt thời gian quân Đức chiếm đóng nước Pháp, đã gây ảnh hưởng sâu sắc đến các nhà thiết kế thời trang trong tương lai.
Sau chuyến nghiên cứu của ông tại Hoa Kỳ vào năm 1935 và việc ra mắt dòng sản phẩm phiên bản của riêng ông, Dior đã rất quan tâm đến thị trường nước ngoài và dòng hàng thời trang cao cấp may sẵn. Ngược lại, ông thấy thời trang trong thời gian Đức chiếm đóng là “kinh khủng” và buộc phải thốt lên: “sau này tôi sẽ làm điều ngược lại để trả thù một cách thú vị”. Đây là thời gian hoạt động phong phú nhất của ông: phim (Le Lit à Colonne của Roland Tual [1942 ], Lettre d’amour [1942] và Sylvie et le fantôme [1945] của Claude Autant- Lara, Échec au roi của Jean-Paul Paulin [1943], và Pamela; ou, L’énigme du temple của Pierre de Hérain [ 1945]) và vở kịch Au petit bonheur của Marcel L’Herbier (tại nhà hát Gramont, tháng 12, 1944) đã cho ông cơ hội thoát khỏi những khuôn phép của các thể loại trang phục bình thường, nhằm tạo ra những chiếc áo đầm dài với những thiết kế lộng lẫy, chịu ảnh hưởng sâu sắc từ bối cảnh lịch sử, cho Oddette Joyeax.
Sau khi giải phóng, đồng nghiệp của ông, Pierre Balmain đã khai trương công ty thời trang cao cấp vào năm 1945 trên đường François IeR và cũng đã khuyến khích Dior làm điều này. Marcel Boussac, một nhà sản xuất hàng dệt may lớn của Pháp và cũng là chủ tịch của cotton-marketing syndicate, đã đề nghị Dior làm giám đốc nghệ thuật cho công ty Gaston (trước đó có tên là Philippe et Gaston) tại rue Saint-Florentin.
Nhận biết việc kinh doanh đã lỗi thời, thay vào đó, Dior đề nghị, ông sẽ bắt đầu với một công ty thời trang cao cấp, nơi mà tất cả mọi thứ sẽ hoàn toàn mới, từ ý tưởng, nhân sự đến các đồ nội thất, nhà xưởng, với nhận thức là thị trường nước ngoài, sau thời gian dài trì trệ do chiến tranh, chắc chắn sẽ đòi hỏi điều gì đó thực sự mới trong lãnh vực thời trang. Marcel Boussac đã đầu tư 60 triệu franc vào dự án.
Nhà Dior
Vào năm 1946 Dior chọn một biệt thự tư nhân nằm ở 30, đại lộ Montaigne làm địa điểm cho công ty của riêng ông, được thành lập vào ngày 08 tháng 10 năm 1946. Doanh nghiệp có bốn mô hình và 85 nhân viên, 60 trong số đó là thợ may. Đội ngũ quản lý, ngoài các nhà thiết kế chính, bao gồm một giám đốc tài chính (Jacques Rouet), một quản lý xưởng thiết kế (Raymonde Zehnacker, xuất thân từ Lelong), một quản lý may (Marguerite Carré, xuất thân từ Patou), và một cố vấn nghệ thuật và quản lý thiết kế thời trang cao cấp (Mitzah Bricard, nhà thiết kế từ Molyneux). Xưởng thời trang bao gồm hai hai xưởng chuyên cho áo đầm và một xưởng cho trang phục (người quản lý là Pierre Cardin, lúc mới 20 tuổi). Ngay từ đầu, ở tầng trệt của công ty, cũng có một cửa hàng bán các sản phẩm, phụ kiện không đòi hỏi phải vừa khít. Salons và các cửa hàng đều do Victor Grampierre trang trí với những tông màu trắng, ngọc trai xám và nội thất theo phong cách Louis XVI cách tân.
Việc khai trương được quảng bá rộng rãi: “Khi bộ sưu tập mùa hè 1946 được công bố, tất cả mọi người đều bàn tán về Christian Dior, do một tin đồn khác thường đã lan rộng trong công chúng, cho rằng với sự hỗ trợ tài chính của Marcel Boussac, vua cotton của Pháp, ông đã có điều kiện tạo một công ty riêng cho chính ông. “Ngay cả trước khi được nhìn thấy tận mắt, bộ sưu tập đầu tiên của Dior đã gây tiếng vang rộng rãi và ông đã giành được sự ủng hộ của các biên tập viên của tạp chí Vogue, Le Figaro, và Elle.
Là gương mặt mới trong làng thời trang cao cấp, Christian Dior cuối cùng cũng đã giới thiệu bộ sưu tập đầu tiên của ông cho mùa xuân năm 1947, khi những sự kiện dành cho mùa đông vửa kết thúc.
Được coi là màn mở đầu cho một phong cách New Look, sự kiện đã trở nên nổi tiếng đối với một nhà thiết kế thời trang ở tuổi 42. “Mùa đầu tiên đã rất tuyệt vời, thậm chí vượt ngoài mong đợi của tôi,” ông nói. Mùa tiếp theo, nhà thiết kế đã thúc đẩy dòng New Look đến tột đỉnh và gặt hái được thành công tuyệt vời, kèm theo với sự ra mắt của dòng nước hoa đầu tiên, Miss Dior.
Với đà phát triển này, Dior đã dành mười năm cuối cùng của cuộc đời cho việc phát triển công ty thời trang cao cấp của chính ông và đồng thời mở rộng ảnh hưởng của ông đối với thời trang thế giới. (Năm 1955, công ty Dior có một ngàn nhân viên trong 28 xưởng và chiếm đến một nửa kim ngạch xuất khẩu của ngành công nghiệp thời trang cao cấp Pháp.)
Với bộ sưu tập đầu tiên của ông, Dior đã nhận được giải thưởng Neiman Marcus vào năm 1947. Từ sau chuyến đi của ông đến Hoa Kỳ, ông đã học được, như ông nói, rằng “nếu tôi muốn có được số lượng lớn phụ nữ thanh lịch Mỹ. . . Tôi đã phải mở một cửa hàng quần áo may sẵn sang trọng ở New York”. Năm sau, ông thành lập công ty con Christian Dior New York, Inc., tại 745 Fifth Avenue. Ông lặp lại quy trình này tại Caracas năm 1953 (Christian Dior Venezuela), tại London năm 1954 (Christian Dior, Ltd), và sau đó ở Úc, Chile, Mexico và Cuba. Các công ty này thực hiện các sản phẩm đo-may theo phong cách Paris và cung cấp các phụ kiện thời trang. Tuy nhiên mãi đến năm 1967 thì dòng hàng may sẵn thực sự mới được phân phối dưới nhãn hiệu Miss Dior.
Năm 1948, công ty dầu thơm Christian Dior được thành lập và công ty đã tung ra dòng sản phẩm thứ hai là Diorama vào năm 1949, tiếp theo là Eau Fraîche (1953) và Diorissimo (1956); dòng son môi đầu tiên ra mắt vào năm 1955. Dior đã thành lập một bộ phận vớ (tất) và găng tay vào năm 1951, rồi tiếp tục thành lập công ty Christian Dior Delman, chuyên sản xuất giày do Roger Vivier thiết kế và cuối cùng các cửa tiệm tại Paris cũng tạo thêm các bộ phận dành cho quà lưu niệm và các sản phẩm trên bàn ăn vào năm 1954. Các sản phẩm mang nhãn hiệu Dior được mở rộng rất nhanh nhờ vào chính sách rất sáng tạo cho việc nhượng quyền, cấp phép và một trong số đó đã được thực hiện vào năm 1949. Với phương pháp này, nhãn thương hiệu sẽ được gắn lên tất cả các phụ kiện của áo đầm, từ thắt lưng đến đồ trang sức và cho cả những sản phẩm rất khác biệt khác như cà vạt Christian Dior(1950).
Sự tăng trưởng của công ty được thực hiện thông qua chính sách quan hệ công chúng đơn giản và hiệu quả: ít thực hiện việc quảng cáo trực tiếp nhưng có quan hệ rất chặt chẽ với báo chí, nhằm bảo đảm sự xuất hiện của thời trang cũng như cho người sáng tạo ra chúng (người đã được đăng trên trang bìa của tờ Time vào ngày 04 tháng 3 năm 1957). Nhà thiết kế đã có nhiều cuộc phỏng vấn, thiết kế trang phục cho các buổi khiêu vũ đáng nhớ (trong đó bao gồm “Venetian ball” của Carlos de Beistegui thực hiện tại Palazzo Labia ngày 03 tháng 9 năm 1951), và đều đặn thiết kế cho các ngôi sao như Marlene Dietrich trong Alfred Hitchcock’s “Stage Fright” năm 1950 và Henry Koster’s “No Highway in the Sky” vào năm 1951 và Ava Gardner trong Mark Robson’s “The Little Hut” vào năm 1956.
Sự quan tâm dành cho các bộ sưu tập đã tăng hàng năm theo kỳ vọng – nối tiếp những công bố về những thay đổi lớn (như sự liên quan đến chiều dài của váy). Nhà thiết kế còn tự công bố các thông cáo có tính mô tả thông qua báo chí với một giọng điệu rất quả quyết chẳng hạn như “không có màu vàng”, hoặc “không có loại mũ chỉnh chu với phong cách đo-may”, để tạo thêm động lực cho khuynh hướng thời trang mới.
Các bộ sưu tập, mỗi bộ có đến cả hai trăm sản phẩm, biểu lộ rõ những mâu thuẫn trong các dòng tiếp nối nhau và đã tạo ra tốc độ thay đổi chưa từng thấy trước đây trong thời trang : Corolle và 8 (1947), còn được gọi là “bộ sưu tập New Look”; Zig-Zag và Envol, tiếp theo là Ailee (1948); Trompe-l’œil và Milieu de Siècle (1949); Verticale và Oblique (1951); Ovale ou Naturelle và Longue (1951); Sinueuse và Profilée (1952); Tulipe và Vivante (1953); Muguet và H (1954), A và Y (1955); Flèche và Aimant (1956); và Libre và Fuseau (1957).
Các ảnh hưởng của La Belle Epoque đến New Look
Hoàn toàn là các dòng khác biệt, nhưng nhà sáng tạo luôn liên kết chúng lại qua những đặc điểm nhất định luôn ổn định. Theo cấu trúc, áo đầm luôn hình thành từ ý định tạc hình dọc theo các đường nét đã được xác định trước.
Cho dù là New Look, Shock Look (tên tiếng Anh cho dòng Vivante), hoặc Flat Look (dòng H), thân áo luôn được cách điệu một cách mạnh mẽ. Eo sẽ được dịch chuyển, thắt lại hoặc thả lỏng. Mông áo phồng hoặc co lại nhờ vào sự lựa chọn các vật liệu có khả năng thể hiện trong hình dạng mẫu thiết kế năng động và căng thẳng của nhà thiết kế: lụa thô shantung, lụa ottoman, taffeta dày, satins, nhung, organza, vải len, cotton piqué thường được dùng thay thế cho các loại vải nhiễu làm từ len và tơ tằm.
Khởi xướng cho phong cách sử dụng một số lượng lớn các chất liệu, tác phẩm nghệ thuật, và các đồ trang trí, Christian Dior đã kích thích sự tăng trưởng của một số ngành công nghiệp song song: các nhà sản xuất corset, các nhà sản xuất lông vũ, thợ thêu, các nhà sản xuất trang sức cho trang phục, các nhà thiết kế hoa, và các họa sỹ tranh minh họa. Do đó, bức tranh sáng tạo của Christian Dior bao gồm những đôi giày của Roger Vivier, các mẫu in của Brossin de Mère, các loại vải tuyn của Brivet, các loại vải của Rébé (René Bégué) và Georges Barbier, các đồ trang sức của Francis Winter và các bản vẽ của René Gruau. Đối với lông thú, mũ, chúng được sản xuất trong các xưởng chuyên của công ty thời trang.
Theo phong cách, các mẫu sáng tạo của Dior thường được phân biệt bởi các mẫu trang trí xuất phát từ các thể loại thời trang trước 1914 và Dior đã không xác định cụ thể nguồn gốc cho các phong cách đã vay mượn của ông.
Đối với Dior, tạo ra một cái gì mới bằng mọi giá, thậm chí cả những cái phí lý, không còn là lãnh vực thiết yếu của việc khám phá. Hoàn toàn cách biệt với chủ nghĩa siêu thực trước chiến tranh, ông bộc bạch về nguồn gốc của các bộ sưu tập đầu tiên:” sau nhiền năm tháng lang thang, mệt mỏi với việc qua lại chỉ với họa sỹ và nhà thơ, thời trang mong muốn trở về để tìm lại các chức năng nguyên thủy là trang điểm và làm đẹp cho phụ nữ. Kết quà là, thời trang cao cấp của ông, mặc dù vẫn là đặc quyền của những người giàu có, đã có thể dễ hiểu hơn cho tất cả mọi người. Christian Dior đã ký nhận việc dân chủ hóa thị hiếu nếu không phải chỉ dành cho thời trang.
Bằng cách thích nghi đường nét của phụ nữ vào thiết kế, bằng cách áp đặt việc chọn lựa phụ kiện và hoàn cảnh phù hợp cho mọi trang phục, nhà thiết kế đã không tạo nhiều không gian cho việc thể hiện có tính cách cá nhân, những rủi ro và những tưởng tượng khác. Mặt khác đặc tính bền bỉ một cách tổng thể đã bảo đảm tiếng tăm của ông. Điều này cho phép ông làm hài lòng được số đông quần chúng, những người tìm thấy trong Christian Dior, dù từ quốc gia nào, dù có văn hóa trang phục nào cũng vậy, một nhãn hiệu bảo đảm sự thanh lịch. Cuối cùng quan niệm của Dior về thời trang có thể mặc là thể loại thời trang có thể xuất khẩu được.
Christian Dior vẫn luôn là một avant-garde không chuyên nghiệp, một nghệ nhân thuộc thể loại quay đầu trở lại với trật tự, và sau cùng là nhà sản xuất của sự thanh lịch. Là nhà thiết kế siêu sao đầu tiên, ông qua đời vì một cơn đau tim ở tuổi 52 tại Bagni di Montecatini, Ý. Nhà tài chính Marcel Boussac đã nghĩ đến việc đóng của công ty, nhưng khi phải đối mặt với áp lực từ các đơn vị giữ giấp phép, ông đã bổ nhiệm người trợ lý trẻ Yves Saint Laurent làm giám đốc nghệ thuật và nhờ vậy nhãn hiệu tiếp tục được tồn tại. Khi Yves Saint Laurent rời công ty vào năm 1960, Marc Bohan đã tiếp tục chức vụ này mãi cho đến khi Gianfranco Ferré mua lại vào năm 1989.
Các mẫu thiết kế của họ xác định một hình ảnh về thời trang hoàn toàn cách xa những thách thức và những công bố của thời trang hiện đại. Phong cách cổ điển của Christian Dior đứng vững mãi đến năm 1997, khi John Galliano làm sống lại việc chủ động tiếp cận truyền thông do chính Dior đã khởi xướng