fashion industry

(noun, fashion, textile) công nghiệp thời trang,
bao gồm các tập đoàn toàn cầu có trị giá hàng tỉ đô la chuyên việc sản xuất và kinh doanh quần áo. Một số nhà quan sát phân biệt giữa các ngành công nghiệp thời trang (sản xuất “thời trang cao cấp”) và ngành công nghiệp may mặc (sản xuất quần áo thường hoặc “thời trang hàng loạt”). Nhưng từ những năm thập niên 70 ranh giới giữa hai thể loại đã bị phai mờ. Thời trang được định nghĩa chính xác nhất, đơn giản chỉ là phong cách hay phong cách quần áo và phụ kiện được được sử dụng bởi các nhóm người ở một thời điểm nhất định nào đó.
Có thể có sự khác biệt giữa thời trang thiết kế đắt tiền, được giới thiệu trên các sàn diễn ở Paris hay New York và hàng thể thao cũng như các phong cách đường phố được sản xuất hàng loạt, bày bán trong các siêu thị và trên thị trường trên thế giới.
Tuy nhiên, ngành công nghiệp thời trang vẫn bao gồm việc thiết kế, sản xuất, phân phối, tiếp thị, bán lẻ, quảng cáo và khuyến mãi tất cả các mặt hàng may mặc (quần áo nam, phụ nữ và trẻ em) từ hàng “haute couture” hiếm và đắt giá (nghĩa đen là “high sewing”), hàng thời trang thiết kế đến hàng quần áo bình thường mặc hàng ngày. Đôi khi thuật ngữ “thời trang công nghiệp” với ý nghĩa rộng hơn, được dùng để chỉ các ngành công nghiệp và dịch vụ có sử dụng hàng triệu triệu lao động trên thế giới.
Ngành công nghiệp thời trang là một sản phẩm của thời hiện đại. Trước giữa thế kỷ thứ 19, hầu như tất cả quần áo là sản phẩm thủ công dành cho mỗi cá nhân, có thể được sản xuất tại nhà hoặc đặt hàng từ thợ may. Đến đầu thế kỷ 20, với sự phát triển của các công nghệ mới như máy may, sự hình thành của chủ nghĩa tư bản toàn cầu và sự phát triển của hệ thống nhà máy sản xuất cũng như sự gia tăng của các cửa hàng bán lẻ như cửa hàng bách hóa, quần áo đã được sản xuất hàng loạt với các kích thước theo chuẩn và được bán với giá cố định.
Mặc dù ngành công nghiệp thời trang phát triển ở châu Âu và Mỹ trước tiên, ngày nay nó là một ngành công nghiệp quốc tế và có tính toàn cầu hóa cao. Quần áo thường được thiết kế ở quốc gia này, nhưng được sản xuất tại một quốc gia khác  và được  bán ở một quốc gia thứ ba. Ví dụ, một công ty thời trang Mỹ có thể mua vải ở Trung Quốc và quần áo được sản xuất tại Việt Nam, sau đó được chuyển sang và hoàn tất tại Ý, rồi được vận chuyển đến nhà kho ở Mỹ để phân phối cho các cửa hàng bán lẻ trên toàn thế giới.
Ngành công nghiệp thời trang từ lâu đã là một trong những nhà tuyển dụng lớn nhất tại Hoa Kỳ và việc này vẫn không thay đổi trong thế kỷ 21. Tuy nhiên, việc làm đã giảm đáng kể khi việc sản xuất ngày càng được chuyển ra nước ngoài, đặc biệt là Trung Quốc. Vì số liệu về ngành công nghiệp thời trang, dùng trong các báo cáo cho nền kinh tế quốc gia, bao gồm về nhiều lĩnh vực riêng biệt của ngành công nghiệp, số liệu tổng hợp về việc sản xuất hàng dệt may và quần áo rất khó để có được toàn diện. Tuy nhiên, với bất kỳ con số nào, thì ngành công nghiệp thời trang cũng chiếm một phần đáng kể trong sản lượng kinh tế thế giới.
Ngành công nghiệp thời trang bao gồm bốn cấp độ: việc sản xuất nguyên liệu thô, chủ yếu là xơ, sợi và hàng dệt, bên cạnh đó còn có da và lông thú, việc sản xuất hàng thời trang của các nhà thiết kế, nhà sản xuất, nhà thầu, và những công đoạn khác;  bán lẻ và các hình thức khác nhau của quảng cáo cũng như khuyến mãi. Các cấp độ bao gồm nhiều lĩnh vực riêng biệt nhưng vẫn phụ thuộc lẫn nhau, tất cả đều hướng đến mục tiêu đáp ứng nhu cầu tiêu dùng đối với hàng may mặc, trong điều kiện cho phép người tham gia trong ngành công nghiệp dệt may hoạt động có hiệu quả (lợi nhuận).
Lĩnh vực quan trọng của ngành công nghiệp thời trang
Thiết kế và sản xuất hàng dệt may
Phần nhiều hàng thời trang được làm từ các vật liệu dệt. Sự tự động hóa một phần trong việc kéo sợi và dệt len, bông và các sợi tự nhiên khác là một trong những thành tựu đầu tiên của cách mạng công nghiệp trong thế kỷ 18. Vào thế kỷ 21 những quy trình được tự động hóa cao và được thực hiện bởi máy tính điều khiển các máy móc sản xuất có tốc độ cao. Sản lượng lớn của ngành công nghiệp dệt may là sản xuất các loại vải sử dụng trong may mặc. Cả hai loại sợi tự nhiên (như len, bông, lụa và lanh) và sợi tổng hợp (như nylon, acrylic và polyester ) đều được sử dụng. Sự quan tâm ngày càng tăng đối với thời trang bền vững (hoặc “thời trang sinh thái”) đang dẫn đến việc sử dụng nhiều hơn các sợi thân thiện đối với môi trường, chẳng hạn như sợi cây gai dầu. Cộng theo đó bao gồm cả các loại vải tổng hợp công nghệ cao có những đặc tính như thấm hút ẩm (Coolmax), khả năng chống bẩn (303 High Tech Fabric Guard), duy trì hoặc tản nhiệt cơ thể và bảo vệ chống lại lửa, vũ khí (sợi Kevlar), lạnh (Thinsulate), bức xạ tia cực tím (Solarweave), và các nguy cơ khác. Vải được sản xuất với một loạt các hiệu ứng thông qua nhuộm, dệt, in, và các quy trình sản xuất cũng như hoàn tất khác. Dựa trên các khuynh hướng về thời trang, các nhà sản xuất hàng dệt may đã chuẩn bị trước và tạo ra các loại vải với màu sắc, kết cấu và chất lượng theo như dư đoán nhu cầu tiêu dùng.
Thiết kế và sản xuất hàng thời trang
Trong lịch sử, rất ít nhà thiết kế thời trang đã trở nên nổi danh, chẳng hạn như Coco Chanel hay Calvin Klein, những người đã tạo ra các bộ sưu tập thời trang cao cấp có uy tín, bao gồm cả hàng prêt-á-porter (“may sẵn”). Những nhà thiết kế này có ảnh hưởng lớn trong việc thiết lập xu hướng thời trang. Nhưng trái với suy nghĩ thông thường, họ không xác định phong cách mới, thay vào đó, họ cố gắng thiết kế loại quần áo với hy vọng sẽ đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng.
Đại đa số các nhà thiết kế làm việc âm thầm cho các nhà sản xuất, như một phần của đội ngũ thiết kế, tích hợp phong cách thời trang xu hướng mới vào trong hàng may mặc dành cho người tiêu dùng bình thường. Nhà thiết kế lấy cảm hứng từ một loạt các nguồn, bao gồm cả phim, trang phục trên truyền hình, phong cách đường phố và các hoạt động thể thao.
Đối với hầu hết các nhà thiết kế, phương pháp thiết kế truyền thống, chẳng hạn như vẽ phác thảo trên giấy và phủ vải trên người nộm (mannequins), được bổ sung hoặc thay thế bằng kỹ thuật thiết kế trên máy tính. Điều này cho phép các nhà thiết kế nhanh chóng thay đổi kiểu mẫu của một thiết kế đã được đề xuất cho quần áo, cho vải, đồ trang trí, hay các sản phẩm khác và giúp họ điều kiện để chia sẻ liền những thay đổi mới với các đồng nghiệp, cho dù ở phòng bên cạnh hoặc tại một lục địa khác.
Chỉ có một số rất nhỏ các nhà thiết kế và các nhà sản xuất sản xuất quần áo thời trang sáng tạo cao cấp. Một số thậm chí còn nhỏ hơn (chủ yếu là ở Paris) sản xuất haute couture. Hầu hết các nhà sản xuất sản xuất hàng may mặc với giá cả trung bình. Một số công ty sử dụng các cơ sở sản xuất của họ cho một số hoặc tất cả các công đoạn sản xuất, nhưng hầu hết đều dựa vào các công ty có chuyên môn riêng biệt hoặc nhà thầu để sản xuất hàng may mặc theo thông số kỹ thuật của công ty thời trang đưa ra. Trong lĩnh vực may mặc cho phụ nữ, các nhà sản xuất thường sản xuất một số dòng sản phẩm (bộ sưu tập) trong năm  và cung cấp cho các nhà bán lẻ tại những thời điểm được xác định trước. Một số nhà sản xuất “fast fashion” cho ra các sản phẩm mới thường hơn, thậm chí nhiều lần trong năm. Toàn bộ đội ngũ phát triển sản phẩm sẽ tham giam vào việc hoạch định kế hoạch cho một dòng sản phẩm cũng như việc phát triển các mẫu thiết kế. Các vật liệu (vải, lớp lót, nút, vv.) cần phải được tìm kiếm, mua về và mẫu sản phẩm cần phải được thực hiện để trình bày cho khách hàng bán lẻ.
Một công đoạn quan trọng trong sản xuất may mặc là chuyển đổi bản thiết kế thành các mẫu với nhiều kích cỡ khác nhau. Vì tỷ lệ của cơ thể con người thay đổi với trọng lượng  tăng hoặc giảm, thông số không thể chỉ đơn giản là việc tăng hoặc giảm đồng nhất từ một mẫu cơ bản. Tạo mẫu là một nghề truyền thống và cần phải có tay nghề cao. Trong những năm đầu thế kỷ 21, mặc dù với những phát minh mới trong các phần mềm máy tính, nhưng những thiết kế có kích cỡ lớn vẫn rất khó điều chỉnh cho tất cả các kích cỡ. Cho dù ở kích cỡ nào, mẫu thiết kế – dù vẽ trên giấy hoặc được lập trình như một chuỗi mệnh lệnh máy tính – sẽ xác định vải phải cắt thành các mảnh như thể nào để có thể may thành quần áo. Đối với tất cả, đặc biệt với các loại vải đắt tiền, việc cắt vải sẽ được thực hiện với dao được điều khiển bằng máy tính hoặc tia laser cường độ cao để có thể cắt nhiều lớp vải cùng một lúc.
Công đoạn tiếp theo của sản xuất liên quan đến việc lắp ráp của quần áo. Ở đây cũng vậy, với công nghệ hiện đại, bao gồm cả sự phát triển của máy móc thiết bị được điều khiển bằng máy tính, dẫn đến việc tự động hóa một số công đoạn lắp ráp. Tuy nhiên, quá trình cơ bản của việc may khâu vẫn đòi hỏi nhiều lao động. Điều này sẽ tạo áp lực không tránh được đối với các nhà sản xuất quần áo là tìm kiếm một môi trường có mức lương thấp cho vị trí của nhà máy, nơi các vấn đề về an toàn và bóc lột, lạm dụng lao động thường xảy ra. Ngành công nghiệp thời trang ở thành phố New York được thống trị bởi sweatshops nằm trên Lower East Side cho đến khi công ty Triangle Shirtwaist bị cháy vào năm 1911, dẫn đến việc tái cơ cấu tổ chức công đoàn cũng như việc thành lập các quy định cho ngành công nghiệp tại Hoa Kỳ. Trong cuối thế kỷ 20, Trung Quốc nổi lên là nhà sản xuất quần áo lớn nhất thế giới do chi phí lao động thấp và lực lượng lao động có kỷ luật.
Hàng may mặc lắp ráp đi qua nhiều quy trình khác nhau được gọi chung là hoàn tất (finishing). Các quy trình này bao gồm việc thêm các yếu tố trang trí (thêu , đính hạt), đơm nút và khuyết, móc và khoen cài, nút bấm, dây kéo  và các khoá khác; đường viền và cổ tay áo, nhãn thương hiệu nhãn và các nhãn khác (thường được yêu cầu về mặt pháp lý) xác định hàm lượng chất xơ, hướng dẫn giặt ủi và nước sản xuất. Hàng may mặc thành phẩm sau đó được ủi ép và đóng gói để vận chuyển.
Đối với nhiều nước sau Thế Chiến Thứ II, việc thương mại hàng dệt và may mặc đã được quy định chặt chẽ bởi các nước nhập khẩu, trong đó thường có việc áp đặt hạn ngạch và thuế quan. Các biện pháp bảo hộ, với dự định (nhưng cuối cùng không thành công) ngăn chặn việc di chuyển các cơ sở sản xuất từ ở những nơi có mức lương cao sang các nước có mức lương thấp, dần dần bị bỏ phế từ những năm 1980. Các biện pháp này đã được thay thế bằng chính sách thương mại tự do, dưới sự bảo trợ pháp lý của Tổ chức Thương mại Thế giới và các cơ quan quản lý quốc tế khác, khi nhận ra lợi thế cạnh tranh của các nước có mức lương thấp, và theo đó còn là lợi thế cho người tiêu dùng ở các nước giàu, thông qua việc hàng hoá luôn có sẵn với giá cả chấp nhận được. Sự ra đời của container và chi phí vận tải hàng không tương đối rẻ đã khiến cho việc sản xuất thích nghi hoàn toàn với các điều kiện và nhu cầu của thị trường tiêu thụ, cho dù có cách xa ở hai đầu quả đất.
Mặc dù không được coi là một phần của ngành công nghiệp may mặc, việc sản xuất và buôn bán các phụ kiện, chẳng hạn như giày dép, túi xách và đồ lót vẫn có sự liên quan chặt chẽ với  ngành công nghiệp thời trang. Cũng như với hàng may mặc, việc sản xuất hàng phụ kiện dao động từ những mặt hàng rất sang trọng đắt tiền đến các mặt hàng được sản xuất hàng loạt rẻ tiền. Cũng như việc sản xuất hàng may mặc, việc sản xuất hàng phụ kiện có xu hướng đổ về các môi trường có mức lương thấp. Các nhà sản xuất các phụ kiện cao cấp, đặc biệt là túi xách, đang gặp khó khăn do sự cạnh tranh từ hàng giả (“nhái”), đôi khi được sản xuất qua cách sử dụng vật liệu kém chầt lượng trong cùng một nhà máy, nơi sản xuất các hàng “thật”. Việc buôn bán hàng giả như vậy là bất hợp pháp theo các quy ước quốc tế,  tuy nhiên rất khó rất khó kiểm soát. Điều này đã khiến cho các nhà sở hữu thương hiệu thất thu hàng trăm triệu USD hàng năm.
Bán lẻ hàng thời trang: tiếp thị và bán hàng
Sau khi quần áo đã được thiết kế và sản xuất, chúng cần phải được bán ra. Nhưng làm thế nào để quần áo có thể được đưa từ nhà sản xuất đến khách hàng? Kinh doanh bằng cách mua quần áo từ các nhà sản xuất và bán cho khách hàng được gọi là bán lẻ. Các nhà bán lẻ thường mua hàng trước đó từ 3-6 tháng, trước khi khách hàng có thể mua những bộ quần áo này trong cửa hàng.
Tiếp thị thời trang là quá trình quản lý dòng chảy của hàng hóa từ sự lựa chọn thiết kế ban đầu, sản xuất mẫu để giới thiệu cho khách hàng bán lẻ, với mục tiêu tối đa hóa doanh thu và lợi nhuận của một công ty. Sự thành công của việc tiếp thị thời trang phụ thuộc vào sự hiểu biết và đáp ứng mong muốn, cũng như nhu cầu của người tiêu dùng đối với các sản phẩm phù hợp. Người làm tiếp thị sử dụng các số liệu, chú ý đến các phương tiện truyền thông, nhắm vào các đối tượng khách hàng cũng như ứng dụng các phương tiện khác để xác định sở thích của người tiêu dùng và qua đó cung cấp thông tin phản hồi cần thiết cho các nhà thiết kế và các nhà sản xuất về các loại cũng số lượng hàng hóa sẽ được tiêu thụ. Người làm tiếp thị có trách nhiệm xác định và định nghĩa khách hàng nhắm đến của một nhà sản xuất thời trang và đáp ứng sở thích của các khách hàng.
Tiếp thị hoạt động ở cả cấp độ bán buôn và bán lẻ. Các công ty không bán lẻ sản phẩm của họ sẽ phải bán hàng của họ cho các nhà bán lẻ với giá sỉ, chẳng hạn như cửa hàng, siêu thị, và các công ty bán hàng trực tuyến. Họ sử dụng các phương tiện như trình diễn thời trang, catalog và một lực lượng bán hàng được trang bị với các sản phẩm mẫu để tìm những điểm chung giữa các sản phẩm của nhà sản xuất và khách hàng của nhà bán lẻ. Các người làm tiếp thị cho các công ty bán hàng lẻ chủ yếu quan tâm đến các sản phẩm phù hợp với chính khách hàng của họ. Ở cả phương diện bán buôn và thị trường bán lẻ, tiếp thị cũng liên quan đến các hoạt động khuyến mãi, quảng cáo trong các sản phẩm in ấn và quảng cáo qua các phương tiện truyền thông khác nhằm thiết lập sự nhận thức đối với thương hiệu và uy tín thương hiệu với các đặc điểm đa dạng như: chất lượng, giá cả, hoặc phong cách thời trang.
Liên quan chặt chẽ đến tiếp thị là việc bán hàng, bao gồm mọi cố gắng để tối đa hóa doanh thu và lợi nhuận qua việc thúc đẩy người tiêu dùng mua sản phẩm của công ty. Trong định nghĩa chuẩn của thuật ngữ này là, bán hàng liên quan đến việc bán đúng sản phẩm, với giá hợp lý, vào đúng thời điểm và địa điểm, đến đúng khách hàng. Người buôn bán hàng thời trang do đó phải sử dụng thông tin của các nhà tiếp thị về sở thích của khách hàng để làm cơ sở cho các quyết định về việc dự trữ hàng hóa phù hợp với số lượng đủ nhưng không quá nhiều, cung cấp các mặt hàng với giá hấp dẫn nhưng vẫn có lợi nhuận và giảm giá cho các mặt hàng tồn kho. Bán hàng cũng liên quan đến việc trình bày hàng hóa một cách hấp dẫn và dễ thấy thông qua việc tận dụng các cửa sổ của cửa hàng, trưng bày trên các kệ và các sự kiện khuyến mãi đặc biệt. Chuyên gia bán hàng phải có khả năng đáp ứng nhu cầu tiêu thụ tăng vọt bằng cách nhanh chóng trữ thêm các sản phẩm được ưa chuộng. Một phần mềm theo dõi hàng tồn kho của một cửa hàng ở London, ví dụ, có thể tự động gởi đơn đặt hàng đến một cơ sở sản xuất ở Thượng Hải để đặt một số lượng hàng nhất định với các thông số và kích cỡ theo yêu cầu. Hàng đặt sau đó sẽ được chuyển giao sau một số ngày.
Đến đầu thế kỷ 21 mạng Internet ngày càng trở thành một cửa hàng bán lẻ quan trọng, đồng thời cũng tạo ra những thách thức mới (không có điều kiện cho khách hàng thử quần áo trước khi mua, hạ tầng cơ sở cần phải thiết kế để xử lý quần áo trả lại và trao đổi) và mở ra cơ hội mới cho nhà bán lẻ (khả năng tạo cho khách hàng cơ hội mua sắm 24 giờ mỗi ngày và tạo điều kiện truy cập cho khách hàng nông thôn). Trong thời đại ngày càng có nhiều sự lựa chọn trong việc mua sắm cho khách hàng bán lẻ và giá cả càng cạnh tranh gay gắt giữa các nhà bán lẻ, việc bán hàng đã trở thành một trong những nền tảng của ngành công nghiệp thời trang hiện đại.
Trình diễn thời trang
Nhà thiết kế và các nhà sản xuất thời trang quảng bá sản phẩm quần áo của họ không chỉ với nhà bán lẻ (các nhà thu mua) mà còn với các phương tiện truyền thông (tạp chí thời trang) và trực tiếp đến khách hàng. Vào cuối thế kỷ 19, các nhà cung cấp thời trang cao cấp tại Paris đã bắt đầu cho khách hàng của họ xem riêng những thời trang mới nhất. Đến đầu thế kỷ 20, không chỉ các nhà thời trang cao cấp mà ngay cả các cửa hàng tổng hợp cũng áp dụng các chương trình triển lãm thời trang với các người mẫu chuyên nghiệp. Dựa theo phong cách của các nhà couturiers Paris, các nhà thiết kế hàng may sẵn ở các nước khác cũng bắt đầu tổ chức các buổi trình diễn thời trang cho một số đối tượng bao gồm khách hàng tư nhân, kết hợp với  nhà báo và các nhà thu mua. Vào cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, trình diễn thời trang đã trở nên đa dạng và kịch tính hơn. Buổi trình diễn được tổ chức ở những địa điểm rộng lớn hơn với cấu trúc sàn diễn đặc biệt (“catwalks”) dành riêng cho các người mẫu, những người mà ngày càng có vai trò quan trọng trong việc trình bày các mẫu thời trang mới.
Đến đầu thế kỷ 21, trình diễn thời trang trở thành một phần của lịch thời trang. Các buổi trình diễn thời trang cao cấp, được tổ chức hai lần một năm ở Paris (vào tháng giêng và tháng bảy) với sự có mặt chính thức của nhà thiết kế thời trang cao cấp (bao gồm các nhà thời trang độc quyền và đắt tiền), giới thiệu các trang phục mà khách hàng có thể đặt mua,  nhưng nhiều hơn là được dùng  để giới thiệu những ý tưởng của nhà thiết kế về xu hướng thời trang và bộ mặt của thương hiệu. Hàng thời trang may sẵn, được trình bày riêng cho cả quần áo nam và nữ, được tổ chức vào mùa xuân và mùa thu trong “Tuần lễ thời trang, Fashion Weeks”, quan trọng nhất là các buổi diễn ở Paris, Milan, New York và London. Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có hàng chục các tổ chức Tuần Lễ Thời Trang khác trên thế giới, từ Tokyo đến São Paolo. Các chương trình này có giá trị thương mại lớn hơn nhiều so với các chương trình thời trang cao cấp và mục đích chủ yếu hướng đến là các phóng viên ngành thời trang và các nhà thu mua cho các chuỗi cửa hàng, các nhà thương mại và các thị trường khác. Được chuyển tải rộng rãi qua các phương tiện truyền thông, các buổi trình diễn thời trang phản ánh và thúc đẩy khuynh hướng thay đổi của thời trang. Hình ảnh và video của các buổi trình diễn thời trang này sẽ lập tức được chuyển tải đến các nhà sản xuất quần áo hàng loạt, những nơi sẽ sản xuất các mặt hàng giá rẻ, bắt chước hoặc lấy cảm hứng từ những thiết kế trình diễn trên sàn catworks.
Phương tiện truyền thông và tiếp thị
Tất cả các phương tiện truyền thông đều cần thiết cho việc tiếp thị thời trang. Tạp chí thời trang chuyên nghiệp đầu tiên xuất hiện ở Anh và Pháp vào cuối thế kỷ 18. Trong thế kỷ 19, các tạp chí thời trang – chẳng hạn như  French La Mode Illustrée, British Lady’s Realm, và American Godey’s Lady’s Book – nở rộ và phát triển mạnh mẽ. Các bài viết, với những hình màu minh họa vẽ bằng tay (còn gọi là fashion plates), các quảng cáo, các tạp chí thời trang – cùng với các sự phát triển khác như máy may, các cửa hàng và quần áo may sẵn với những kích cỡ chuẩn –  đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy việc dân chủ hóa thời trang trong kỷ nguyên hiện đại. Sự phát triển của các phương pháp hiệu quả và ít tốn kém trong việc tái tạo hình ảnh cho các phương tiện truyền thông ở dạng in ấn vào đầu thế kỷ 20 đã dẫn đến sự gia tăng của hình ảnh thời trang và các tạp chí thời trang như Vogue. Việc quảng bá trên tạp chí nhanh chóng trở thành một công cụ tiếp thị chính cho ngành công nghiệp thời trang.
Việc tạo ra các phim ngắn, tóm tắt các sự kiện hiện đang diễn ra, trình chiếu trong các rạp chiếu bóng và sự phát triển của máy truyền hình (TV) đã tạo điều kiện cho mọi người dân trên khắp thế giới có thể xem trình diễn thời trang và bắt chước các kiểu quần áo thời trang của những người nổi tiếng. Ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông trực quan vẫn tiếp tục trong thời đại Internet, với các blog thời trang nở rộ lên như là một phương tiện ngày càng quan trọng đối với việc phổ biến thông tin thời trang. Các sự kiện trên thảm đỏ như các buổi lễ trao giải, tạo cơ hội cho những người nổi tiếng trong những bộ thời trang thời trang được chụp ảnh, và qua đó cũng là những quảng bá có giá trị trực tiếp cho các nhà thiết kế.
Thời trang thế giới
Hầu hết mọi người trên thế giới đang mặc những cái mà có thể được mô tả là “world fashion”, một kiểu quần áo Phương Tây đơn giản và giá rất rẻ, thường là một chiếc áo thun với quần hoặc váy, được sản xuất ở dạng đại trà. Tuy nhiên, trên thế giới cũng có nhiều công ty thời trang nhỏ chuyên về một số loại trang phục đặc thù phục vụ cho thị trường trong nước hoặc trong khu vực có liên quan đến sắc tộc, tôn giáo, phong tục, tập quán ví dụ như việc thiết kế, sản xuất và tiếp thị sari ở Ấn Độ và boubous ở Senegal. Các ngành công nghiệp này hoạt động song song với các ngành công nghiệp thời trang toàn cầu, trên quy mô nhỏ và ở qui mô địa phương.
Một phát triển quan trọng trong lĩnh vực trang phục dân tộc-tôn giáo được chấp nhận rộng rãi là khăn trùm đầu (trang phục tôn giáo) của phụ nữ Hồi giáo không chỉ ở Trung Đông mà còn trên khắp thế giới Hồi giáo trong đầu thế kỷ 21. Với hàng triệu phụ nữ Hồi giáo sống tại nhiều quốc gia trên toàn thế giới, các chuẩn che phủ và kiểu cách rất đa dạng. Đối với một số người, sự che mặt có thể có nghĩa như việc rút lui hoàn toàn khỏi những thăng trầm của thời trang. Đối với những người phụ nữ khác, bao gồm cả những người bị bắt buộc phải ăn mặc kín đáo nơi công cộng, có thể mặc thời trang mang phong cách Âu Châu bên dưới trang phục đường phố bảo thủ của họ. Vẫn có những người đã dung hoà được cách ăn mặc của họ, khiến họ vừa sang trọng và vừa kín đáo. Vào đầu thế kỷ 21 thị trường quốc tế đối thời trang kín đáo đã phát triển mạnh. Các nhà thiết kế người Hồi giáo và không phải Hồi giáo đã tạo ra nhiều lựa chọn phù hợp có phong cách, và rồi rất nhiều trang blog thời trang và tạp chí được tạo ra với mục tiêu là các phụ nữ Hồi giáo. Các nhà thiết kế và sản xuất không phải chỉ đối mặt với  tính thẩm mỹ của trang phục kín đáo, mà còn phải đối mặt với những thách thức thực tế liên quan đến các loại quần áo bảo thủ, như đã thấy trong các nỗ lực sản xuất đồ bơi kín đáo nhưng hiệu quả và đồ thể thao cho các vận động viên Hồi giáo nữ.
Hệ thống thời trang
Ngành công nghiệp thời trang là một phần của một hiện tượng xã hội và văn hóa lớn còn được gọi là “hệ thống thời trang”, một khái niệm không chỉ bao gồm các doanh nghiệp thời trang mà còn có cả tính nghệ thuật, sự khéo léo cũng như việc sản xuất và tiêu thụ. Các nhà thiết kế thời trang là một yếu tố quan trọng. Nhưng người tiêu dùng cá nhân, những người chọn, mua và mặc quần áo, cũng như các ngôn ngữ và hình ảnh cũng góp phần vào việc khiến cho người tiêu dùng suy nghĩ gì về thời trang, cũng là những yếu tố quan trọng không kém.
Hệ thống thời trang bao gồm tất cả các yếu tố có liên quan đến toàn bộ quá trình thay đổi của thời trang. Một số yếu tố là bản chất của thời trang, trong đó bao gồm sự thay đổi vì nhu cầu của sự mới lạ (váy dài sẽ được thay bằng váy ngắn sau một thời gian). Các yếu tố khác do ảnh hưởng từ bên ngoài (các sự kiện lịch sử quan trọng như chiến tranh, cách mạng bùng nổ, kinh tế thăng trầm hoặc phong trào nữ quyền). Những người tạo phong trào (Madonna và Diana, công chúa xứ Wales), cũng như những thay đổi trong lối sống (môn thể thao mới như trượt ván) và âm nhạc (rock and roll, hip-hop).
Thời trang là một hiện tượng xã hội phức tạp, liên quan đến các động cơ đôi khi mâu thuẫn nhau, chẳng hạn như việc tạo ra một tính cách riêng biệt, là một phần của một nhóm, cạnh tranh với các nhà đứng đầu ngành thời trang và sự nổi loạn chống lại sự đồng nhất. Ngành công nghiệp thời trang phát triển mạnh qua sự đa dạng và linh hoạt, đủ để thỏa mãn nhu cầu của bất kỳ người tiêu dùng nào dù theo hoặc thậm chí chối bỏ thời trang.